adsads
Sau 3 tháng không lấy bảo hiểm that nghiệp có bị mất không
Lượt Xem 838

Bảo hiểm thất nghiệp có được cộng dồn không nếu chuyển việc hoặc nghỉ nhiều lần? Đây là câu hỏi được rất nhiều người lao động quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng linh hoạt, việc thay đổi công việc diễn ra thường xuyên. Hiểu rõ quy định về cộng dồn thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp không chỉ giúp bạn đảm bảo quyền lợi của mình mà còn tránh bỏ lỡ các chế độ hỗ trợ cần thiết. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn giải đáp chi tiết về vấn đề này dựa trên quy định pháp luật hiện hành.

Bảo hiểm thất nghiệp có được cộng dồn không?

Theo quy định hiện hành, người lao động được phép cộng dồn thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp nếu chưa từng nhận trợ cấp thất nghiệp trước đó. Khoảng thời gian được tính bắt đầu từ lần đầu tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động, với điều kiện chưa làm thủ tục nhận trợ cấp thất nghiệp trong suốt thời gian này.

Căn cứ theo khoản 1, Điều 45 Luật Việc làm số 38/2013/QH13:

 “Thời gian đóng bảo hiểm xã hội thất nghiệp để xét hưởng bảo hiểm thất nghiệp là tổng các khoản thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục hoặc không liên tục từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.”

Điều này có nghĩa là, nếu người lao động không thực hiện việc nhận tiền trợ cấp thất nghiệp, toàn bộ thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được bảo lưu. Thời gian này sẽ được cộng gộp để xét hưởng trợ cấp thất nghiệp vào những lần sau khi người lao động đáp ứng đủ điều kiện.

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 45 cùng luật trên, cũng quy định rõ rằng:

“Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó của người lao động không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho lần hưởng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều 53 của Luật này.”

Các trường hợp ngoại lệ bao gồm:

  • Người lao động tìm được việc làm;
  • Thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc công an;
  • Tham gia khóa học kéo dài từ 12 tháng trở lên;
  • Bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Bị tuyên bố mất tích bởi tòa án;
  • Bị tạm giam hoặc thi hành án tù.

Tóm lại, người lao động vẫn được cộng dồn thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trong trường hợp chưa từng nhận trợ cấp. Tuy nhiên, nếu đã nhận trợ cấp, thời gian đóng trước đó sẽ không còn hiệu lực cho lần tiếp theo, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt đã nêu.

Trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam

Nhiều người lao động thắc mắc bảo hiểm thất nghiệp có được cộng dồn không?

Những trường hợp được cộng dồn bảo hiểm thất nghiệp

Sau khi hiểu rõ bảo hiểm thất nghiệp có được cộng dồn không, điều quan trọng tiếp theo là nắm rõ các trường hợp được phép cộng dồn theo quy định. Căn cứ vào khoản 2 Điều 45 và khoản 3 Điều 54 của Luật Việc làm số 38/2013/QH13, trong trường hợp người lao động bị ngừng hưởng trợ cấp thất nghiệp, phần thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa được sử dụng sẽ được giữ lại. Khoảng thời gian này sẽ được tính gộp vào đợt hưởng trợ cấp tiếp theo nếu thuộc vào một trong các trường hợp sau:

  • Người lao động tìm được việc làm;
  • Thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc công an;
  • Tham gia khóa học kéo dài từ 12 tháng trở lên;
  • Bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Bị tuyên bố mất tích bởi tòa án;
  • Bị tạm giam hoặc thi hành án tù.
Bảo hiểm thất nghiệp bao nhiêu tháng

Người lao động đang tìm việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp

Người lao động không nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Theo khoản 3, Điều 18 Nghị định 61/2020/NĐ-CP, nếu sau 3 ngày làm việc kể từ ngày hẹn mà người lao động không đến nhận quyết định hưởng trợ cấp, không ủy quyền, cũng không thông báo lý do vắng mặt, thì sẽ được xem là không còn nhu cầu hưởng trợ cấp. Nếu sau 7 ngày vẫn không đến nhận, quyết định hưởng trợ cấp sẽ bị hủy và thời gian đóng bảo hiểm chưa hưởng sẽ được bảo lưu cho lần sau.

Người lao động không nhận tiền trợ cấp:

Căn cứ khoản 6, Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP, nếu quá 3 tháng kể từ khi hết thời hạn hưởng trợ cấp mà người lao động không đến nhận tiền và cũng không thông báo bằng văn bản, sẽ được coi là từ chối nhận trợ cấp. Phần thời gian đóng bảo hiểm tương ứng sẽ được bảo lưu để tính cho lần hưởng sau khi đủ điều kiện.

Người lao động chưa hưởng đủ số tháng trợ cấp:

Trong trường hợp người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp trên 3 năm nhưng chưa sử dụng hết số tháng được hưởng (thường do có tháng lẻ), thời gian đóng bảo hiểm chưa tính trợ cấp sẽ được cộng dồn vào lần sau.

Cách tính bảo hiểm that nghiệp

Theo chính sách bảo hiểm xã hội, NLĐ chưa hưởng đủ tháng trợ cấp sẽ được cộng dồn bảo hiểm thất nghiệp

Thời gian, thời điểm và mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hiện nay

Theo quy định tại Điều 50 của Luật Việc làm 2013, pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể về mức hưởng, thời hạn và thời điểm người lao động bắt đầu nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp như sau:

  • “Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. 
  • Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.
  • Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.”
Hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm

Câu hỏi thường gặp

Không lãnh bảo hiểm thất nghiệp có được cộng dồn không?

Có. Theo quy định tại khoản 6, Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP, nếu sau 3 tháng kể từ ngày hết hạn hưởng trợ cấp mà người lao động không đến nhận tiền và cũng không gửi giấy báo cho cơ quan bảo hiểm xã hội, thì sẽ được hiểu là không còn muốn nhận trợ cấp nữa. Trong trường hợp này, thời gian chưa nhận trợ cấp sẽ được giữ lại và cộng dồn cho những lần sau nếu đủ điều kiện.

Nếu nghỉ ngang có lấy được bảo hiểm thất nghiệp không?

Có. Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Lao động 2019, nếu người lao động tự ý nghỉ việc không đúng luật (tức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động), thì sẽ không được nhận trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trước đó vẫn được giữ lại và có thể được cộng dồn để xét hưởng trợ cấp trong những lần sau, khi người lao động đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.

Sau khi nghỉ việc bảo hiểm thất nghiệp

NLĐ nghỉ ngang vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp

Việc nhận bảo hiểm thất nghiệp có ảnh hưởng gì đến chế độ bảo hiểm xã hội không?

Không. Việc nhận trợ cấp thất nghiệp không làm thay đổi mức hưởng hoặc thời gian nhận các khoản bảo hiểm xã hội khác, như trợ cấp lương hưu, thai sản, hay bảo hiểm xã hội một lần, v.v…

Trong trường hợp đóng bảo hiểm không liên tục, liệu có đủ điều kiện nhận trợ cấp thất nghiệp không?

Có. Căn cứ theo khoản 1, Điều 45 và khoản 2, Điều 49 của Luật Việc làm 2013, người lao động không cần phải đóng bảo hiểm liên tục. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp có thể được tích lũy từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc có xác định thời hạn. Đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc công việc có thời gian từ 3 tháng đến dưới 12 tháng, yêu cầu là phải tích lũy đủ 12 tháng trong 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.

tiền bảo hiểm thất nghiệp có được cộng dồn không

NLĐ đóng bảo hiểm không liên tục vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp

Có thể cộng dồn thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ 2 công ty khác nhau để nhận trợ cấp không?

Có. Theo quy định tại Điều 45 Luật Việc làm 2013, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp có thể cộng dồn từ nhiều công ty khác nhau, miễn là tổng thời gian đóng đạt đủ yêu cầu. Điều này có nghĩa là bạn có thể cộng dồn thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ hai công ty để đủ điều kiện nhận trợ cấp thất nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Đóng bảo hiểm gián đoạn có được hưởng bảo hiểm that nghiệp không

Theo chính sách BHXH, có thể cộng dồn thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ 2 công ty khác nhau

Tóm lại, theo quy định của pháp luật, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp có thể cộng dồn từ nhiều công ty khác nhau, miễn là người lao động chưa nhận trợ cấp thất nghiệp. Điều này giúp người lao động đảm bảo quyền lợi khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp trong tương lai. Việc hiểu rõ bảo hiểm thất nghiệp có được cộng dồn không sẽ giúp bạn bảo vệ quyền lợi một cách tốt nhất khi tham gia bảo hiểm.

adsads

Nhận bài viết qua email cùng
HR Insider – VietnamWorks.email subscribers